Indonesia giải bài toán nông nghiệp

Nông nghiệp hiện đang là bài toán khó đối với kế hoạch đầy tham vọng trở thành một trong 10 cường quốc kinh tế thế giới vào năm 2025 và một trong 6 cường quốc kinh tế vào năm 2050.

Ruộng bậc thang trên đảo Bali

Phát biểu trong “Hội nghị quốc tế kiến thiết Indonesia” tại Jakarta hồi tháng 8/2011, Tổng thống Susilo Bangbam Yudhoyono cho biết “Quy hoạch phát triển kinh tế dài hạn 15 năm (2010 -2025)” sẽ làm cho tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt từ 7% tới 8%, cố gắng tới năm 2025 đưa Indonesia trở thành một trong 10 cường quốc kinh tế thế giới, tới năm 2050 trở thành một trong 6 cường quốc kinh tế thế giới.”

Theo báo chí Indonesia, phát triển nông nghiệp hiện đang là bài toán nan giải nhất trong quy hoạch phát triển dài hạn này. Bởi vậy, chính phủ Indonesia phải trước tiên đặt sản xuất nông nghiệp ở vị trí hàng đầu trong công cuộc phát triển kinh tế hiện nay. Bởi lẽ kinh nghiệm của tất cả các nước dù phát triển hay đang phát triển đều phải phát triển đồng bộ, đi đều bằng hai chân công nghiệp và nông nghiệp.

Dân số nông thôn Indonesia hiện chiếm 70% tổng dân số, đất nông nghiệp chiếm khoảng 17% tổng diện tích đất nước, giá trị sản lượng của kinh tế nông nghiệp chiếm 16% trong khi lực lượng sản xuất ở nông thôn chiếm 44,6% dân số.

Sản xuất nông nghiệp phân tán nhỏ lẻ, trong khi điều kiện thiên nhiên của Indonesia lại vô cùng phức tạp. Indonesia có tới trên 18.100 hòn đảo lớn nhỏ, sản xuất nông nghiệp lại manh mún. Hiện cả nước có tới trên 70.000 thôn xóm, trong đó tới 32.000 thôn còn lạc hậu và rất lạc hậu. Trong khi đó, trên 80% đất canh tác tiến hành theo phương thức gia đình, 70% gia đình nông dân chỉ có đất canh tác chừng 1 ha. Giải quyết bài toán này như thế nào phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế của cả nước đang cần sự hỗ trợ của các chuyên gia, các nhà kinh tế và sự hợp tác quốc tế.

Cùng với quy hoạch tổng thể, năm 2010 chính phủ Indonesia đã ban hành “Quy hoạch 5 năm phát triển nông nghiệp” trong đó lấy sản xuất lúa nước làm chủ đạo, phấn đấu đưa sản lượng gạo từ 38 triệu tấn năm 2010 lên 39 triêu tấn năm 2011, trong đó sản lượng thóc năm 2011 phải đạt trên 67 triệu tấn, tăng 1,35% so với năm 2010. Cùng với phát triển lúa nước, ra sức phát triển các lĩnh vực khác trong nông nghiệp như chăn nuôi gia súc, thủy sản, cây công nghiệp, xây dựng các trang trại có quy mô lớn hiện đại, đảm bảo nhu cầu lương thực trong nước đồng thời chú trọng đẩy mạnh xuất khẩu, cố găng xây dựng Indonesia thành một vựa lúa và lương thực của thế giới.

Tháng 1/2011, chính phủ Indonesia lại đưa ra “6 biện pháp” cụ thể:

– Một là nâng cao chất lượng lương thực thực phẩm, từ năm2011 Chính phủ sẽ cung cấp giống tốt,khoa học kỹ thuật, tập trung làm tốt 70.000 hecta lúa nước cao sản lượng, phấn đấu đưa sản lượng gạo từ 38 triệu tấn năm 2010 lên 39 triệu tấn năm 2011.

– Hai là tăng cường giám sát, bảo vệ có hiệu quả đất canh tác nông nghiệp.

– Ba là kiên quyết đảm bảo an ninh lương thực trong nước, cung cấp đầy đủ trên thị trường.

– Bốn là kiên quyết đấu tranh và trừng trị nạn đầu cơ tích trữ lương thực.

– Năm là nhà nước sẽ dùng biện pháp hành chính can thiệp vào thị trường để bình ổn giá lương thực thực phẩm trong nước.

– Sáu là thông qua việc thực hiện điều tiết thuế xuất nhập khẩu để giữ giá lương thực trong nước.

Do tình hình sản xuất phân tán, nên nhà nước Indonesia lấy phương thức sản xuất nhỏ lẻ gia đình sản xuất thóc gạo và lương thực, còn nhà nước tập trung đầu tư vào kinh tế trang trại cây công nghiệp trọng điểm là dầu cọ và cao su.

Hơn 40 năm qua kể từ năm 1969, nhà nước Indonesia đã thực hiện chính sách tín dụng nông thôn tương đối có hiệu quả. Ngành ngân hàng thông qua hơn các chi nhánh ở các tỉnh và hàng trăm ngân hàng tín dụng nông thôn cùng hàng chục ngàn hợp tác tín dụng cấp thôn đã cấp khoản vay trên 10 tỉ USD giúp hộ gia đình phát triển kinh tế nông nghiệp. Mức cho vay thấp nhất là 1.000 USD thời hạn 6 tháng tới 3 năm. Nhờ có số vốn này mà rất nhiều hộ kinh tế gia đình đã vượt qua thời kỳ khó khăn, đảm bảo sản xuất và chăn nuôi cho gia đình.

Trong hơn 20 năm qua, Indonesia kiến tổ chức “lớp học đồng ruộng”, tức đưa các cán bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp tới phổ biến, huấn luyện kỹ thuật cho nông dân ngay trên cánh đồng và thuở ruộng của họ. Tới nay đã tổ chức được trên 50.000 “lớp học đồng ruộng” thiết thực giúp nông dân vượt qua khâu kỹ thuật cơ bản trong gieo trồng và chăm sóc lúa trên đồng ruộng của mình.

Cùng với chính sách nâng đỡ trên cho hộ kinh tế gia đình, nhà nước đẩy mạnh đầu tư vào trang trại cây công nghiệp, nhất là cây cọ và cao su. Trong 20 năm (từ 1986 -2006) diện tích trồng cọ tăng gấp 10 lần, từ 607.000 hecta lên 6.070.500 hecta. Năm 2010, diện tích tới 9,2 triệu hécta. Sản lượng theo đó cũng tăng lên hơn 10 lần từ1,64 triệu tấn năm 1986 lên 16,1 triệu tấn năm 2006. Sản lượng năm 2011 đạt 22 triệu tấn, tăng 4,7% so với năm 2010. Xuất khẩu đạt 16,5 triệu tấn, đứng đầu thế giới. Hiện nay, lượng xuất khẩu dầu cọ của Indonesia chiếm tới gần 50% thị phần thế giới. Số liệu của Indonesia cho biết, mặc dù dân số tăng, tiến trình độ thị hóa tăng nhanh, nhất là quỹ đất dùng vào xây dựng các khu công nghiệp cũng tăng, nhưng chính phủ luôn đảm bảo mục tiêu tăng trưởng 6% diện tích trồng cọ hàng năm và quỹ đất cho trồng cọ có thể lên tới 26 triệu hécta. Dầu cọ đã góp phần tăng trưởng đáng kể cho tăng trưởng GDP và thu ngoại tệ cho nhà nước.

Cùng với phát triển cây cọ, Indonesia cũng chú trọng trồng cao su, hiện nay xuất khẩu cao su thiên nhiên chiếm 25% thị phần thế giới, đứng thứ hai thế giới sau Thái Lan. Phương thức trồng cao su lấy kinh tế hộ gia đình làm chủ yếu, hiện nay có hơn 1,6 triệu hộ gia đình sống nhờ vào trồng cao su và cao su trở thành một trong ngành kinh tế quan trọng của đất nước. Mủ cao su xuất khẩu chiếm tới 90% tổng sản lượng của cả nước. Mục tiêu của Indonesia tới năm 2015 sản lượng cao su sẽ tăng thêm tới 3,8 triệu tấn, như vậy sẽ vượt Thái Lan trở thành nước xuất khẩu cao su thiên nhiên đứng đầu thế giới.

Ngoài hai loại cây công nghiệp chủ lực là cọ và cao su, chính phủ Indonesia còn khuyến khích trồng cây quả xuất khẩu, như lượng xuất khẩu hoa quả từ 171.800 tấn, thu 116 triệu USD năm 2004, tới năm 2008 tăng lên 323.900 tấn, thu 235 triệu USD. Năm 2009, Indonesia trở thành nước lớn nhất thế giới xuất khẩu hoa quả nhiệt đới.

Trong thời gian qua, Indonesia đã giải bài toán nông nghiệp của tương đối thành công, nhất là đa dạng hóa các phương thức kinh tế nông nghiệp, kết hợp hài hòa giữa kinh doanh nhà nước với kinh doanh hộ gia đình, giải quyết tốt các khâu từ giống, vốn, kỹ thuật, phân vùng, phân cấp, phân loại… Với đà này, mục tiêu trở thành cường quốc kinh tế thế giới của Indonesia có thể trở thành hiện thực.

Theo tamnhin